Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

TS Nguyễn Hữu Ninh: Nguy cơ hiện hữu về thiếu hụt năng lượng

 PV:  Một nghiên cứu gần đây cho thấy, Việt Nam đứng thứ 23 trong số những nền kinh tế dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu. Duyên cớ và dự báo của vấn đề này như thế nào, thưa ông? 

 TS Nguyễn Hữu Ninh:  Sở dĩ Việt Nam là một trong những nhà nước chịu ảnh hưởng nặng nề do hậu quả của biến đổi khí hậu là vì những lý do sau đây. Việt Nam là một tổ quốc dài và hẹp chạy dọc biển Đông, có hơn 3.200km đường bờ biển với hai đồng bằng thấp là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, nơi được coi là hai vựa lương thực - thực phẩm chính hiện thời của Việt Nam. Việt Nam có một diện tích rộng lớn về lãnh hải, hải đảo và thềm lục địa với hơn 1 triệu km 2 , nơi tụ họp phát triển nền kinh tế biển gắn chặt với lục địa. Và là quốc gia nằm ở trọng tâm bão lớn nhất thế giới là Tây yên bình Dương. Hằng năm Việt Nam hứng chịu khoảng 6-8 cơn bão nhiệt đới đổ bộ tụ họp từ tháng 4 đến tháng 11, gây ra những thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế quốc gia.

 TS Nguyễn Hữu Ninh 

Bên cạnh đó, chúng ta lại chưa có một nền tảng khoa học - công nghệ phát triển cao, các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu còn hạn chế và phải dựa nhiều vào cộng tác khoa học - công nghệ với các nước khác.

Việt Nam là một nước nông nghiệp bởi thế tác động của biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng  http://thietbithanglong.Vn/dich-vu/lap-dat-camera-quan-sat-gia-re-tai-ha-noi  đến 68% dân số sống ở nông thôn và miền núi.

 PV:   Sự nhạt hoét về biến đổi khí hậu khiến môi trường sống ở các khu vực khác nhau của Việt Nam ngày càng xuống cấp. Giải quyết cội rễ của vấn đề này nên bắt đầu từ đâu?  

 TS Nguyễn Hữu Ninh: bây giờ, gần như ai cũng nghe tới ngữ biến đổi khí hậu, nhưng hiểu về nó thì không nhiều người biết, không chỉ người dân sống ở nông thôn và miền núi. Quan trọng nhất bây chừ là giới truyền thông và giáo dục phải chuyển tải chuẩn xác những thông báo và kiến thức về biến đổi khí hậu đến các thành phần khác nhau trong từng lớp (end - user) để nâng cao nhận thức và hiểu biết của lãnh đạo, doanh nghiệp và quần chúng trong việc đối phó với biến đổi khí hậu cả trước mắt và lâu dài. Từ đó sự tương trợ của khoa học - công nghệ sẽ phát huy được hiệu quả đích thực.

Biến đổi khí hậu là một vấn đề mới với thế giới, không chỉ với Việt Nam, nên phải cần thời gian để đào tạo nguồn nhân lực cũng như đề xuất các chính sách phát triển kinh tế  http://thietbithanglong.Vn/dich-vu/lap-dat-camera-quan-sat-gia-re-tai-ha-noi  - tầng lớp hợp với điều kiện mới.

 PV:   Theo dự báo,  Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong vòng một thập kỷ tới. Dùng năng lượng thân thiện với môi trường nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và sự phát triển bền vững là vấn đề mà ai cũng thấy được, nhưng tại sao cho đến nay, chúng ta vẫn chưa triển khai đích thực hiệu quả? Còn có vướng mắc nào trong khâu thực hiện? 

 TS Nguyễn Hữu Ninh:  Có một điều vững chắc là Việt Nam sẽ thiếu hụt trầm trọng năng lượng, cả trước mắt và lâu dài. Với nhu cầu về điện năng tăng 10-20%/năm, đầu tư PPP về năng lượng chưa đủ quyến rũ, hiệu quả sử dụng năng lượng thấp, v.V… thì rõ ràng lĩnh vực năng lượng sẽ phải đối mặt với những thách thức to lớn trong thời kì tới để đáp ứng được những đích phát triển của giang san trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Một thực tiễn rõ ràng là không phải chỉ vướng mắc trong khâu thực hiện mặc cả trong chính sách phát triển năng lượng vững bền, chúng ta cũng phải xem lại một cách khoa học, đặc biệt lĩnh vực năng lượng sạch  http://thietbithanglong.Vn/dich-vu/lap-dat-camera-quan-sat-gia-re-tai-ha-noi  (và năng lượng mới).

 PV:   Giảm ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện kinh tế của cộng đồng ưng chuẩn việc biến phế thải thành năng lượng được xem là giải pháp nhiều ích lợi. Ông sẽ khuyến cáo gì để có thể thực hiện tốt giải pháp này trong điều kiện Việt Nam? 

 TS Nguyễn Hữu Ninh: Không ai phủ nhận ích của giải pháp này, vấn đề ở chỗ chọn công nghệ và đối tác nào hiệp với điều kiện và “túi tiền” của Việt Nam.

 PV:   Công nghệ và đối tác nào sẽ ăn nhập với điều kiện của Việt Nam, thưa ông? 

 TS  Nguyễn Hữu Ninh:  http://thietbithanglong.Vn/dich-vu/lap-dat-camera-quan-sat-gia-re-tai-ha-noi  hiện có nhiều công nghệ đốt rác thành điện của Đức, Israel, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc... Tùy điều kiện cụ thể từng địa phương để coi xét các vấn đề hệ trọng như: thành phần rác thải, cần phân loại đầu nguồn hay không, quy hoạch điện và giá thành đầu vào/đầu ra có hiệu quả hay không, suất đầu tư, phương thức đầu tư, v.V… Nói chung phải đi vào từng dự án cụ thể mới có thể đưa ra phương án được.

 PV:   Có một thực tại ở Việt Nam là những khuyến cáo thường không được người dân chú ý, chú trọng. Muốn một chương trình vĩ mô nào đó đi vào cuộc sống thì cần phải “thiết quân luật”, cấm và phạt thật nặng không, thưa ông? 

 TS Nguyễn Hữu Ninh: hà tiện năng lượng làm tốt có thể mang lại lợi. Tương đương với một Nhà máy Thủy điện Hòa Bình (2.000MW). Để làm được việc này thì cả quốc gia và dân chúng phải cùng chung sức thì mới xong.

 PV:   Lại có câu chuyện muôn năm cũ ở rất nhiều lĩnh vực đó là “mất bò mới lo làm chuồng”. Là do vai trò của các nhà khoa học, các chuyên gia chưa được phát huy tối đa trong vấn đề quy hoạch, tầm nhìn trung và dài hạn? Hay bản thân đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam chưa đích thực đứng mũi chịu sào trong vấn đề này? Ngại nói thẳng, hoặc nói kín kẽ an toàn hình như là một căn bệnh phổ quát ở Việt Nam?  

 TS Nguyễn Hữu Ninh: Phóng viên Năng lượng Mới đã hỏi  http://thietbithanglong.Vn/dich-vu/lap-dat-camera-quan-sat-gia-re-tai-ha-noi  thì tôi xin nói thật. Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến vai trò của các nhà khoa học, các chuyên gia trong quy hoạch và thực hành chính sách năng lượng cả tầm nhìn trung và dài hạn. Có thể nhiều người sẽ không thích ý kiến của tôi vì những lý do khác nhau, nhưng đây là sự thực chúng ta nên cầu mong.

 PV:   Xin cám ơn tấn sĩ! 

Theo dự báo, đến năm 2030, thế giới sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu năng lượng trầm trọng và phải cần khoảng 10,5 nghìn tỉ euro đầu tư cho ngành này. Với tốc độ tiêu thụ năng lượng hiện tại thì nguồn năng lượng truyền thống của thế giới được dự báo sẽ chóng vánh bị cạn kiệt. Đến năm 2035 tiêu thụ năng lượng toàn cầu sẽ tăng 53%, và các doanh nghiệp khắp nơi trên thế giới đang không ngừng nghiên cứu tìm nguồn năng lượng sạch. Cũng theo thưa của APEC, nếu không giảm cường độ dùng, nhu cầu năng lượng trong khu vực sẽ tăng tương đương với tăng trưởng kinh tế, nghĩa là khoảng 225% cho đến năm 2035. Thế giới đang hướng tới sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo là một trong những cách giúp giải quyết vấn đề tăng nhu cầu năng lượng. Riêng ở Việt Nam, thời đoạn 2010-2020 có thể xuất hiện sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu dùng các nguồn năng lượng nội địa.

 Thành Lê   (thực hành) 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét