Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Chữ “Việt cổ” của ông Đỗ Văn Xuyền (tiếp)

(Petrotimes) - Chữ Việt cổ của ông Xuyền là một thứ chữ ma, có ông cố đạo nào biết đến hoặc nhìn thấy! Nói bừa như ông Xuyền thì có khác gì chửi vào mặt các nhà nghiên cứu chân chính.

>> Chữ 'Việt cổ' của ông Đỗ Văn Xuyền

(Tiếp theo và hết)

Từ sự so sánh trên đây, ta có thể nghĩ rằng ông Xuyền đã lấy bảng chữ cái của người Thái Đen (hoặc Thái Trắng) mà “chế biến” thành “chữ Việt cổ” của ông sao cho phù hợp với đặc điểm của tiếng Việt. Việc này chẳng khó khăn gì vì tiếng Thái và tiếng Việt có nhiều âm tố giống nhau. Chính vì nó đã được chế biến như thế nên ông mới bạo mồm bạo miệng nói rằng bộ ký tự của ông có thể chép đầy đủ thơ Trần Nhân Tông, thơ Nguyễn Du, thậm chí là cả... Thơ Nguyễn Bính nữa. hẳn nhiên! Nhưng đâu có ai cần ông Xuyền làm chuyện ngược đời như thế. Cái người ta cần là chính ông phải tìm cho ra thật nhiều văn bản xưa viết bằng thứ chữ Việt cổ của ông (!) để ông còn đọc lên cho bàn dân trần thế nghe kia! Nhưng làm sao ông Xuyền có thể tìm được! vậy mà ông còn liều lĩnh nói:

&Ldquo;Hiện tại khu vực Tây Bắc còn hàng ngàn văn bản dùng bộ ký tự này và được lưu trữ trong dân gian. (Thể thao & Văn hóa, 31/1/2013).

Lời nói này chứng tỏ là ông chỉ nói càn. Cái mà ông gọi là “bộ ký tự này” trong hàng ngàn văn bản đó bản chất là bảng chữ cái của người Thái Đen (hoặc Thái Trắng) chứ đâu có phải là cái bảng chữ Việt cổ do ông chế biến. Chuyện này thì các nhà Thái học của Việt Nam đã rõ như lòng bàn tay. Theo Vietnam+ ngày 7/5/2013 trong bài “Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số tại Sơn La”, bà Vũ Thùy Linh, Giám đốc bảo tồn tỉnh Sơn La, cho biết:

&Ldquo;Tại kho bảo tồn Sơn La có bộ sưu tập chữ Thái cổ, chữ Dao cổ với hơn 1.000 cuốn thuộc các loại thể: sử thi, trường ca, truyện thơ dân gian, sưu tập bộ trống đồng và đồ đồng cổ có giá trị phục vụ nghiên cứu khoa học”.

Hẳn hoi là chữ Thái cổ, chữ Dao cổ. vậy mà ông Xuyền vẫn huênh hoang với nhà báo rằng “các cuốn sách chữ Việt cổ hiện còn lưu giữ tại bảo tồn Sơn La”. Và còn bậy bạ đến mức nói như trong mơ, rằng “từ thời Hùng Vương người Việt ta đã có chữ, được mô tả Trên Bản đồ giáo dục thời Hùng Vương, danh sách các thầy cô giáo thời Hùng Vương”, như Thái Phong đã ghi lại trong bài “Chữ Việt cổ đã được giải mã?” (VTC News, 29/1/2013). Ông Xuyền còn hù dọa:

&Ldquo;Để khai phá được kho dữ liệu này cần tới công sức của hàng trăm nhà nghiên cứu trong thời kì tới”. (Thể thao & Văn hóa, 31/1/2013).

Xin thưa với ông rằng, chẳng cần đến hàng trăm nhà nghiên cứu, người ta cũng đã bắt đầu khai phá những văn bản đó cách đây ít ra là 40 năm rồi. Có điều là người ta đã chẳng thể đọc nó bằng tiếng Việt như ông đã hoang tưởng, mà bằng tiếng Thái rồi mới dịch sang tiếng Việt cho người Kinh tìm hiểu hoặc thưởng thức, chả hạn: Truyện kể bản mường (Quám tô mương), Lai lịch dòng tộc Hà Công, Lệ mường, Luật mường, thông tục người Thái Đen ở Thuận Châu (Sơn La). 5 tác phẩm hoặc tư liệu này đã được in chung trong quyển Tư liệu về lịch sử và từng lớp dân tộc Thái (NXB KHXH, Hà Nội, 1977). Hai tác phẩm Xống chụ xốn xang (Tiễn dặn nhân tình) và Piết mương, cũng đã được in rồi nhiều văn bản, tư liệu khác cũng đã được giới thiệu.

Phải nói thẳng ra rằng, ông Xuyền rất tơ mơ mù mờ về nhiều khái niệm ngữ học sơ đẳng. Sau đây là quan điểm của ông mà Thái Phong đã ghi lại trong bài “Chữ Việt cổ đã được giải mã?” trên VTC News ngày 29/1/2013:

&Ldquo;Theo công trình của nhà nghiên cứu người Pháp Haudricourt (…): Trước Công nguyên, người Việt nói không dấu, do không có dấu nên bộ chữ khoa đẩu phải dùng tới hai loại phụ âm: phụ âm cao và thấp để mô tả Các từ khác nhau”.

Công trình chính của A.-G. Haudricourt về thanh điệu của tiếng Việt là bài “De l’origine des tons en vietnamien [1954]” (Về cội nguồn của thanh điệu trong tiếng Việt [1954]), tại đây tác giả đã đoán định rằng, cho đến những thế kỷ đầu Công nguyên thì tiếng Việt cũng chưa có thanh điệu (ông Xuyền gọi là “nói không dấu”); đến thế kỷ VI thì xuất hiện ba thanh rồi từ thế kỷ XII trở đi nó mới có sáu thanh như hiện tại. Nhưng cái sai khôn xiết ngu ngơ của ông Xuyền là ở chỗ ông đã dùng một cách diễn dạt chung (“nói không dấu” hoặc “không có dấu”) để chỉ hai hiện tượng hoàn toàn khác nhau. &Ldquo;Người Việt nói không dấu” có tức thị tiếng Việt không có thanh điệu còn “bộ chữ khoa đẩu không có dấu” thì lại có tức thị nó không có những ký hiệu (trên chữ) để ghi thanh điệu (nên phải dùng tới hai loại phụ âm: thấp và cao) nhưng bản thân cái tiếng nói mà nó biên chép thì lại có thanh điệu. Cách mô tả Của ông Xuyền tự nó đã cho thấy ông hoàn toàn không biết phân biệt khái niệm “thanh điệu” là hiện tượng ngữ âm với khái niệm “ký hiệu ghi thanh điệu” là hiện tượng văn tự. vậy mà ông còn nói nhảm để cho nhà báo Phạm Ngọc Dương ghi lại và thuật như sau:

&Ldquo;Ông (Xuyền - AC) đã khôn xiết sửng sốt khi đọc được một tài liệu cổ, mà nhà tuyên giáo Alexandre de Rhodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài giỏi nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, anh ta đã chỉ dẫn cho tôi cả thảy các thanh của tiếng nói ấy và cách đọc các từ” (…). Ông Xuyền tin rằng, thứ chữ mà người thanh niên đó dạy nhà tuyên giáo Bồ Đào Nha là chữ Việt cổ! Điều đó có nghĩa, những nhà tuyên giáo người Bồ Đào Nha đã hấp thu bộ chữ cổ của người Việt và có công Latin hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ” (“Người đọc thông viết thạo chữ Việt cổ”, VTC News, 16/4/2011).

Ông Xuyền khéo kể chuyện hoang đường. Cậu thiếu niên người Đại Việt chỉ dạy nói, dạy tiếng cho A. De Rhodes chứ làm gì có dạy cho ông ta “bộ chữ cổ của người Việt”, một bộ chữ ma. &Ldquo;Tài liệu cổ” mà ông Xuyền khoe là mình đã đọc được chính là một tình tiết trong quyển Voyages et Missions, in tại Paris năm 1653. Quyển này đã được Hồng Nhuệ dịch sang tiếng Việt dưới đầu đề Hành trình và tuyên giáo do Ủy ban kết đoàn đạo thiên chúa TP HCM ấn hành năm 1994. Còn ông Xuyền đã đọc được ở đâu thì chúng tôi không biết. Nhưng A. De Rhodes chỉ kể như sau:

&Ldquo;Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng cậu có trí sáng ý biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa” (Sđd, Hồng Nhuệ dịch, tr.56).

Vậy chính cậu bé mới là người học chữ Tây chứ không phải dạy chữ ta cho A. De Rhodes (Chữ “nòng nọc” ở đâu mà dạy, ngoài chữ Nôm?). Nhưng theo ghi nhận của Phạm Ngọc Dương trong bài đã dẫn, ông Xuyền còn đi xa hơn:

&Ldquo;Điều sửng sốt mà ông Xuyền nhận thấy, đó là nhiều ký tự mà các nhà tuyên giáo người Bồ Đào Nha dùng trong những buổi đầu tương đối giống với chữ Việt cổ. Càng về sau này, qua cả trăm lần cải tiến, đổi thay, những chữ tương đối giống chữ Việt cổ đã dần biến mất và mất hẳn bóng vía trong các văn bản Quốc ngữ hiện tại”.

Chữ Việt cổ của ông Xuyền là một thứ chữ ma, có ông cố đạo nào biết đến hoặc nhìn thấy! Nói bừa như ông Xuyền thì có khác gì chửi vào mặt các nhà nghiên cứu chân chính. Nhưng nhăng nhất là chuyên sau đây cũng do Phạm Ngọc Dương ghi trong bài trên:

&Ldquo;Sau 50 năm nghiên cứu chữ Việt cổ, thời đại Hùng Vương, ông giáo già Đỗ Văn Xuyền giờ đã đọc thông, viết thạo chữ Việt cổ. Ông có thể nói luôn cả tiếng của người Việt thượng cổ. Ông Xuyền nói vui rằng, nếu có phép thần thông quảng đại, hoặc cỗ máy vượt thời kì, đưa ông về thời Đông Sơn, ông có thể dễ dàng giao du với người Việt thời kỳ đó”.

tiếng nói bình dân gọi đó là bốc phét. ít ra ông Xuyền cũng phải có một số văn bản, ít nữa là một đôi, tối thiểu cũng là một, được các nhà khoa học, đầu tiên là các nhà khảo cổ học và các nhà sử học công nhận về tuổi thọ của nó; (những) tài liệu này phải được viết bằng thứ chữ giống y như những chữ trong cái bảng mà ông đã đưa ra. Đó là điều kiện tiên quyết. Đằng này, một tờ giấy lận lưng đúng theo điều kiện đó ông cũng không có… Ông chỉ có bảng chữ “Việt cổ” mà ông đã chế biến trong 50 năm từ những tư liệu bằng chữ Thái! Ấy thế nhưng ông Xuyền lại có nhiều “học sinh”. Xin hãy nghe Phạm Ngọc Dương thuật và phát biểu cảm nghĩ:

&Ldquo;Tôi nhớ mãi cái buổi tại trọng tâm Văn hóa người cao tuổi ở phố Đặng Văn Ngữ (Đống Đa, Hà Nội), vào cuối năm 2007, ông giáo già người Phú Thọ (ông Xuyền - AC), đã thuyết trình cả buổi trước 40 nhà khoa học, toàn các giáo sư, tấn sĩ, các nhà sử học, tiếng nói học, văn chương nước nhà. Lúc thì trên máy chiếu, lúc trên bảng đen, ông như đay đả của thời xưa cũ, và các nhà khoa học lớn của nước nhà, như những học sinh, ngồi nghe ông thuyết giảng về một loại ký tự lạ. Loại ký tự lạ ấy không phải của người dưng hành tinh, mà chính là của thánh sư chúng ta!” (“Người 50 năm giải mã chữ của thánh sư người Việt”, VTC News, 12/4/2011).

Nhà báo Phạm Ngọc Dương đã lên đồng như thế còn chúng tôi thì nghĩ rằng cử tọa của ông Xuyền chỉ giữ thái độ lịch sự cấp thiết trong khi ông thuyết trình mà thôi. Chứ nếu họ đích thực là những người học sinh ngoan của ông thì - chúng tôi băn khoăn - không biết rồi ra học thuật của nước nhà sẽ đi về đâu!

A.C

Tags: lap dat camera | lap dat camera quan sat | camera quan sat | lap dat camera gia re camera quan sat gia re | tong dai dien thoai lap dat tong dai dien thoai

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét