Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Vai trò chẳng thể thiếu

Như ta vẫn nói “không có nghiên cứu căn bản thì ta chẳng thể phát triển khoa học và công nghệ”. Mệnh đề hoàn toàn đúng này khẳng định vai trò “hạ tầng cơ sở” của nghiên cứu căn bản. Nhưng điều cần nghĩ suy sâu hơn là làm sao để nghiên cứu cơ bản thực hành được vai trò “không thể thiếu” của mình trong các loại hình nghiên cứu khác? Làm sao có nhiều kết quả của nghiên cứu căn bản được ứng dụng vào thực tại như một số kết quả nghiên cứu căn bản  click here  của Viện Công nghệ Tiên tiến của ĐH Bách Khoa đã giúp Công ty bình minh chế tác được nhiều sản phẩm chiếu sáng có tính cạnh tranh cao, chứ không chỉ ở việc có được nhiều các ấn phẩm khoa học hay bằng sáng chế, xem đấy là thước đo tiềm lực khoa học nước nhà.

Bây giờ các phát minh cơ bản có thể đi rất nhanh tới ứng dụng. Ví dụ như các kết quả nghiên cứu toán học về các loại mô hình thưa trong thập niên vừa qua và vài năm gần đây đã và đang được dùng để phân tích dữ liệu lớn, hiện đang là một thách thức mà giới công nghiệp và các doanh nghiệp phải đối đầu. Người làm vận dụng thấy rõ những khó khăn này, nhưng tìm lời giải ở đâu quả không dễ dàng, và càng khó hơn nếu không có sự hiệp tác với người nghiên cứu các phương pháp toán học này. Và ở nhiều nước nghiên cứu cơ bản được tiến hành ở mọi lĩnh vực để tạo một nền tảng khoa học rộng khắp, dù không phải  tham khảo  nội dung nghiên cứu cơ bản nào được tiến hành cũng có giá trị. Nhất là ở Việt Nam trên thực tế nhiều đề tài nghiên cứu căn bản vẫn còn làm những việc đã “quá đát” trên thế giới, do nhiều nhà khoa học tiếp đeo đuổi lâu dài hướng nghiên cứu khi học tập ở nước ngoài, không ít nhà nghiên cứu ngại tiến hành những đề tài nghiên cứu căn bản gần với thực tiễn, hay những xu hướng mới, vấn đề mới...

Ngoài ra, có thể thấy trong các nghiên cứu áp dụng và phát triển của ta còn ít yếu tố của các khoa học cơ bản. Điều này một phần do tri thức cơ bản thường thiếu trong chương trình đào tạo hoặc ít liên tưởng với thực tiễn trong quá trình đào tạo, giống như câu chuyện là khi học bơi, chơi bóng đá, chơi bóng bàn..., Muốn nhanh giỏi người dự thường phải dành nhiều thời kì học và luyện các động tác cơ bản, thì khác với họ, ta cứ chơi là chơi thôi, phần khác quan yếu hơn là các nghiên cứu của ta thường được tiến hành cách biệt và ít hiệp tác giữa các loại hình nghiên cứu.

Kinh nghiệm phát triển khoa học căn bản của một số nước cho thấy điều mà các nhà nước cần quan hoài là để có thể đảm bảo cho sự phát triển khoa học cơ bản nói riêng và KHCN nói chung phát triển vững bền trong dài hạn, cần một chiến lược, chính sách xác định đúng đắn hướng đầu tư và điều tiết tỷ lệ hợp lý giữa ba loại hình nghiên cứu giữa KH&CN và các ngành kinh tế. Chẳng hạn như Nhật Bản, theo số liệu năm 2007, tỷ lệ phần trăm sức người sức của (nói khác là phân bổ vốn con người và vốn tài  đọc thêm  chính) dành cho nghiên cứu căn bản là 14%, nghiên cứu ứng dụng là 22% và 63% cho nghiên cứu phát triển. Tỷ lệ 14% này đích thực cũng ứng với một kinh phí rất lớn cho phép một lực lượng đông đảo làm nghiên cứu căn bản ở hồ hết các lĩnh vực. Mặc dầu khi bắt đầu học hỏi phương Tây, Nhật Bản đã tụ hội cốt cho nghiên cứu vận dụng và phát triển, rồi dần tăng thêm đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, nhưng lúc nào họ cũng có một bộ phận ưu tú đeo đuổi nghiên cứu cơ bản (và cho nên gần đây nhận được khá nhiều giải Nobel về khoa học, trong khi đây vẫn là ước mong lớn của Trung Quốc và Hàn Quốc).

Chiến lược và chính sách phát triển khoa học căn bản này cần được xây dựng trên cơ sở hiệp tác giữa cac nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học, kinh tế...


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét