Ngôi làng Töpchin thuộc bang Brandenburg cách Berlin khoảng 40km là một trong những nơi trước tiên thực hiện thí nghiệm và loài ngoại lai được nhập khẩu là trâu nước châu Á. 10.000 năm trước, hà mã vẫn là loài bản địa ở châu Âu nhưng vì nạn săn bắt nở rộ đã đẩy phạm vi sống của chúng ra xa tới phía đông nam của lục địa. Mãi đến mùa hè năm 2011, người ta mới đưa nước về chăn thả tại ngôi làng Töpchin theo một dự án kết hợp cùng Quỹ bảo tàng tự nhiên Brandenburg tiến hành. Những con vật màu đen sừng được lai tạo giống theo đơn đặt hàng riêng tại Pháp có thể gặm cỏ ở những môi trường ẩm ướt và nghèo dinh dưỡng mà loài bò ở Đức đã ngao ngán, bao gồm một số vùng đầm lầy bị đe dọa và khu vực đầm lầy muối còn sót lại.
Những con trâu nước này đang được kỳ vọng sẽ giúp phục hồi đa dạng sinh học ở ngôi làng Töpchin Ông Holger Rössling thuộc Quỹ bảo tàng Thiên nhiên Brandenburg cho biết: “Chúng ta cần trâu để loại bỏ sinh khối, nếu chẳng những khu vực nói trên sẽ mất đi các loài cây đặc hữu và chỉ còn tồn tại các loài phổ biến… Khác với bò, loài trâu chịu đựng giỏi và thích ứng tốt. Ngoài lợi thế về bộ móng guốc khỏe, chúng còn có thể gặm hầu như vơ các loài thực vật”. Dự án Töpchin là ví dụ về một khuynh hướng bảo tồn đang phát triển ở châu Âu, sử dụng các loài động vật ăn cỏ lớn, ngoại lai để làm tăng sự đa dạng của hệ động, thực vật bản địa. Nhiều người vẫn tin rằng bảo tàng Thiên nhiên tức thị để cho hệ động, thực vật bản địa tồn tại biệt lập, không có sự cạnh tranh của các loài ngoại lai hoặc khôi phục nguyên trạng môi trường sống của chúng. Nhưng trong một thế giới bị chi phối bởi con người và môi trường đổi xem thêm thay nhanh chóng như hiện nay thì mọi thứ đã trở thành phức tạp hơn, không thể lúc nào cũng duy trì một khu vực thuần túy các loài bản địa. Thỉnh thoảng chúng ta phải sáng tạo và linh hoạt hơn trong cách điều chỉnh phong cảnh để duy trì đa dạng sinh học. Điều đang xảy ra ở Đức hưởng ứng một khuynh hướng được gọi là “tái tạo tự nhiên” (rewild), một phong trào toàn cầu nhằm mở mang các khu vực hoang dại trọng yếu, kết nối chúng phê chuẩn các chuồng chồ cho phép con người và động vật tại đây cùng tồn tại, song song bảo vệ và tái nhập khẩu các loài động vật ăn thịt hàng đầu. Nếu sáng kiến “Tái tạo tự nhiên châu Âu” do các nhóm bảo tồn như Quỹ Quốc tế Bảo vệ tự nhiên (WWF) dẫn đầu đặt mục tiêu đến năm 2020 “tái tạo thiên nhiên” được 1 triệu héc-ta đất thuộc 10 khu bảo tàng từ Tây Ban Nha tới lưu vực sông Danube và dãy núi Carpathian thì trái lại, các dự án ở Đức lại nhằm bình phục đa dạng sinh học cho những phong cảnh mà con người đã tác động. Chỉ trong thời kì ngắn, rất nhiều dự án na ná như Töpchin đã xuất hiện trên toàn nước Đức. Cách Berlin vài cây số về phía tây, Quỹ Heinz Sielmann đã đưa 19 con ngựa Przhevalsky – loài bản địa của Mông Cổ – cùng chung sống với 41 con bò rừng bizon châu Âu ở Döberitzer, nơi trước đây từng là khu huấn luyện quân sự. Mục tiêu của dự án là để những con ngựa hoang và bò rừng bizon châu Âu dọn bớt cỏ ở khu vực này, tạo điều kiện cho các loài ưa nhiệt phát triển. Dự án tiếp theo cũng sử dụng động vật ăn cỏ lớn nhằm khôi phục phong cảnh Thiên nhiên tại một nhà máy xử lý nước thải cũ gần thủ đô Berlin. Hay ở quận Barnim thuộc bang Brandenburg, người ta kết hợp chăn thả ngựa konik – loài ngựa được cho là có nguồn cội từ ngựa hoang châu Âu cổ đại – và các loài gia súc của Anh. Với lợi thế về sức vóc, chúng được kỳ vọng sẽ dễ thích nghi với địa hình mấp mô và ẩm ướt hơn so với những chú bò thông thường ở Đức. Ông Josef Reichholf, nhà động vật học và sinh vật học tiến hóa của Đại học Kỹ thuật Munich, người từ lâu đã ủng hộ việc đưa những loài ăn cỏ lớn để tăng cường đa dạng sinh vật học ở các phong cảnh có con người sinh sống, cho biết: “Chăn thả ngựa konik và các động vật ăn cỏ lớn khác là phương pháp tốt nhất để bảo tồn tự nhiên ở Đức”. Ông giải thích rằng phong cảnh nơi đây chịu ảnh hưởng của một lượng lớn phân bón từ chả khi các công cụ liên lạc và các nhà máy thải ô-xít ni-tơ. Điều này khiến các loài không đặc hữu phát triển và từ đó thu hẹp và rút cuộc là triệt tiêu các loài quý hiếm vốn thích nghi với môi trường nghèo dinh dưỡng. Thảm thực vật dày đặc cũng tạo ra một vi khí hậu ẩm ướt mát mẻ gây bất lợi cho nhiều loài sâu bọ và loài chim vốn ăn nhập với các sinh cảnh khoáng đãng. Do đó việc đưa các loài ăn cỏ lớn tới đây là nhằm loại bỏ bớt các loài cây phát triển quá mức, cho phép các loài bản địa hiếm hơn phát triển mạnh. Khác với khu vực nhiệt đới, phần nhiều đa dạng sinh học ở châu Âu không nằm ở đây trong các cánh rừng, mà ở khu vực đồng cỏ, đầm lầy và các vùng đất hoang. Sau nhiều thế kỷ được con người dùng, cảnh quan đó khi trở về trạng thái thiên nhiên thường sẽ có ít loài hơn, nên lý do đằng sau rất nhiều kế hoạch bảo tàng ở Đức liên can đến việc tái nhập khẩu các động vật ăn cỏ ngoại lai. Then chốt của việc tái nhập cảng chính là tập trung theo dõi tác động của những loài ăn cỏ lớn tới cảnh quan. Những dự án bảo tồn như Töpchin lúc đầu cũng bị người dân địa phương hoài nghi như một hình thức chiếm đất hợp pháp, song dần dần, họ đã nhận ra tính hiệu quả của dự án và đồng ý cho hà mã đến gặm cỏ trên đất của mình. Cuối năm ngoái, một đôi hộ gia đình ở Töpchin còn sinh sản được thịt và xúc xích trâu đem bán. Họ tin rằng cư dân thành thị Berlin sẽ thích thứ hương vị từ tự nhiên này… Theo Diễn đàn Đầu tư |
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013
Du nhập động vật ngoại lai để bình phục đa dạng sinh học
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét