Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Trước thảm họa nhỡn tiền của biến đổi khí hậu

Sự cụ của các nhà nước như giờ là chưa đủ trước thảm họa nhãn tiền do sự biến đổi khí hậu gây ra.

 

Tin bài liên can:

 

Khái niệm hiệu ứng nhà kính

Hiệu ứng nhà kính từ một khái niệm vật lý thuần tuý được khám phá vào thế kỷ 19 (năm 1824) bởi nhà khoa học Joseph Fourier, bỗng đến thế kỷ 21 này trở nên một hiện tượng tự nhiên đáng sợ, một tác nhân gây nên hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu, một mối đe dọa lớn đối với loài người.

Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển và sự đổi thay khí hậu và thời tiết, đã gây ra hạn hán, lụt lội, bão tố, lốc xoáy, cháy rừng v.V… Ảnh: internet

Hiệu ứng nhà kính đơn giản xảy ra trong một ngôi nhà trồng cây. Khi tia sáng dữ xuyên qua các cửa sổ hay mái nhà bằng kính, năng lượng của tia sáng được tiếp nhận bởi không khí bên trong và phân đồng tình nhiệt lượng cho toàn không gian ngôi nhà. Do sự cản ngăn của lớp kính, chỉ một phần nhỏ nhiệt lượng truyền ngược ra ngoài, còn phần đông được lưu giữ lại và sưởi ấm hết thảy không gian, nhờ đó cây cảnh trong nhà kính có thể đâm chồi, ra hoa, kết trái sớm hơn thường nhật.

Hiệu ứng thu và phát nhiệt (hay năng lượng) không thăng bằng nói trên cũng xảy ra trong bầu khí quyển của địa cầu. Và, người ta mượn mực “hiệu ứng nhà kính”, dù không thật chuẩn, để nói đến hiệu ứng nhà kính khí quyển hoặc hiệu ứng khí quyển nhân tạo (vì nó gây ra do tác động của con người).

Hiệu ứng kiểu mới này có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau. Ánh sáng dữ chiếu vào địa cầu dưới dạng các tia bức xạ sóng ngắn (tia tử ngoại…) nên dễ dàng xuyên qua lớp khí quyển đến mặt đất, nhưng khi phản xạ trở lại dưới dạng các bức xạ nhiệt sóng dài  camera quan sát  (tia hồng ngoại…) lại bị tiếp nhận một phần đáng kể trong lớp khí quyển do sự có mặt của các loại khí gọi là “khí nhà kính”; đó là hơi nước và CO2 (Cacbon dioxit), các loại khí CH4 (Mê tan), O3 (Ôzôn) và N2O, hoặc các khí CFC, CF6, HFCs và PFCs. Tỷ lệ đóng góp vào hiệu ứng nhà kính trên địa cầu của bốn khí “nhà kính chính” là: Hơi nước (36–70%), Cacbon dioxit (9–26%), Mê tan (4–9%), Ôzôn (3–7%).

Tăng nhiệt độ: lợi và hại

Hậu quả của sự mất thăng bằng thu và phát nhiệt trên địa cầu làm tăng nhiệt độ bầu không khí.

Cũng nên nói đến vai trò hăng hái của hiệu ứng nhà kính khí quyển. Nếu không có hiệu ứng này sẽ xẩy ra tình trạng thăng bằng giữa thu và phát năng lượng của địa cầu đối với ánh sáng dữ được thiết lập, và hậu quả là địa cầu không được sưởi ấm và nhiệt độ làng nhàng của địa cầu chỉ vào khoảng –15 °C. Đó cũng là tai họa đối với cuộc sống con người trên địa cầu. May thay, nhờ sự có mặt của các khí nhà kính với tỷ lệ đóng góp của CO2 khoảng 0,036% nên nhiệt độ khoảng 33 °C được duy trì trong nhiều thế kỷ nay trên mặt đất.

Đáng tiếc, cùng với quá trình công nghiệp hóa, lượng khí nhà kính và đặc biệt là khí CO2 đang tăng lên đáng kể trong khoảng 100 năm qua. thí dụ, lượng khí CO2 trong khí quyển năm 2005 đã tăng 35% so với cách đây 650 000 năm. Riêng ở Việt nam, lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2020 dự định sẽ tăng tới 93% so với năm 1998.

Và hậu quả là nhiệt độ của bầu khí quyển tăng quá giới hạn cấp thiết và sự biến đổi khí hậu trên địa cầu giờ đây đã lên đến mức báo động khẩn. Đó là sự thực, dù rằng, một số ít người được gọi là “các nhà phê bình khí hậu” phủ nhận điều nay. nên chi, con số các nhà khoa học đứng về phía họ gần đây đã giảm đi rõ rệt. Và chính TT. Mỹ Obama vừa qua cũng đã phản ứng: "Tôi không có nhiều nhẫn nại cho việc cãi cọ với “các nhà phê bình khí hậu” về sự thực của thách thức này (biến đổi khí hậu)”.

Có thể nói, hồ hết các nhà khoa học trên thế giới ủng hộ giả thuyết cho rằng việc tăng nồng độ các loại  tổng đài điện thoại  khí nhà kính sẽ làm tăng nhiệt độ trên toàn cầu và dẫn đến làm đổi thay khí hậu trong thế kỷ đã qua và sẽ tiếp trong thời kì tới.

Tai họa khôn lường

Có thể kể ra một số hậu quả đáng kể liên can đến sự đổi thay khí hậu do hiệu ứng nhà kính. Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển và sự đổi thay khí hậu và thời tiết, đã gây ra hạn hán, lụt lội, bão tố, lốc xoáy, cháy rừng v.V… Điều này dẫn đến suy giảm nhanh sự đa dạng sinh vật học, giảm số lượng và chất lượng các loại thủy sản, làm tuyệt diệt nhiều loài động và thực vật quý hiếm. Đặc biệt là khi địa cầu nóng lên, băng ở hai cực tan ra làm mực nước biển dâng lên nhấn chìm nhiều vùng bờ cõi của các nhà nước nằm ven bờ biển.

Có thể đưa ra các số liêu thống kê đã được ban bố sau đây của Việt Nam để làm thí dụ. Ở Việt Nam, diện tích đất bình quân đầu người rất thấp (thứ 159 trong khoảng 200 nước nhà nước, chỉ bằng 1/6 bình quân của thế giới). thế mà, ở xứ sở này, hiện đang có đến trên 7 triệu ha (trong 31,2 triệu ha lục địa) đang chịu tác động của sự hoang mạc hóa, trên 400 nghìn ha cồn cát và bãi cát chuyển di, 120 nghìn ha đất bị xói mòn, 30 nghìn ha bị nhiễm mặn nhiễm phèn và 300 nghìn ha đất thẳng tuột thiếu nước.

Dù tính đa dạng sinh vật học của VN được xếp vào loại cao, thứ 16 trên thế giới, với khoảng 2400 loài thực vật bậc thấp, 11 400 loài thực vật bậc cao, 335 loài thú, 840 loài chim, 317 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, 1000 loài cá nước ngọt và 2500 loài cá biển và số loài vi sinh vật càng đa dạng hơn, nhưng giờ dần dần bị tuyệt diệt do tình trạng biến đổi khí hậu. Trong đó, đáng để ý là các loại động vật quý hiếm như bò rừng, heo vòi, tê giá, công, trĩ... Hoặc, do sự biến đổi khí hậu và cả do sự phá hoại của con người, các loại thực vật đặc trưng vùng nhiệt đới như gỗ đỏ, gụ mật, lát hoa, giáng hương, táu, lim xanh, nghiến, hoàng đàn, sao, sến, chò chỉ và nhiều loài dược chất quý hiếm càng ngày càng thưa dần.

ngoại giả, dự đoán nước biển có thể dâng cao thêm từ 0,3 đến 1,0m, hậu quả là nhiều vùng thấp ở hai châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long sẽ bị ngập hoặc bị mặn hóa...

Các “cường  lắp đặt camera quan sát  quốc” khí nhà kính

Cơ quan thông báo Năng lượng quốc tế IEA có hội sở ở Paris đã thống kê mức phát thải khí nhà kính, cốt yếu là khí carbon dioxide từ hết thảy các nguồn đốt nhiên liệu hóa thạch và từ dùng trong đời sống. Sau đây là danh sách 10 “cường quốc” khí nhà kính theo số liệu của năm 2008.

nhà nước Tổng phát thải Phát thải đầu người

(Triệu Tấn CO2) (Tấn CO2/người)

1. Trung Quốc 6534 4.91

2. Hoa Kỳ 5833 19.18

3. Nga 1729 12.29

4. Ấn Độ 1495 1.31

5. Nhật 1214 9.54

6. Đức 829 10.06

7. Canada 574 17.27

8. Anh Quốc 572 9.38

9. Hàn Quốc 542 11.21

10. Iran 511 7.76

trật tự trên cho đến nay hầu như chơi đổi thay, dù rằng sự cụ cắt giảm phát thải khí nhà kính đều được các nước quan hoài ở những chừng độ khác nhau.

Vị trí số 1 nhiều năm thuộc về Hoa Kỳ, nhưng nay đã “bị” Trung Quốc thay thế. Tổ chức IEA cho biết: Trung Quốc không chỉ vẫn giữ danh hiệu siêu cường số 1 phát thải tổng cộng khí nhà kính, họ còn chiếm giữ lượng khí thải lớn gia tăng lớn nhất so với các nước trong năm 2012 vừa qua, phun thêm 300 triệu tấn khí nhà kính, cao hơn cả phần giảm của Hoa Kỳ và Châu Âu cọng lại.

Sự cụ chưa đủ

Dù Trung Quốc vẫn là nước đạt kỷ lục thế giới về lượng phát thải tổng cọng và cả lượng phát thải trong năm 2012, nhưng cũng nên nhận thấy một điều là lượng gia tăng khí nhà kính năm qua là một trong những mức thấp nhất họ đạt được trong thập kỷ nay. Điều này đề đạt cụ của họ trong cụ nâng cao hiệu quả dùng năng lượng và phát triển mạnh nguồn năng lượng tái hiện và điện hạt nhân.

Ở Hoa Kỳ, “siêu cường quốc” thứ nhì về phát thải khí nhà kính, sự chuyển đổi từ than sang khí đốt trong sinh sản điện đã giúp họ giảm một lượng khí thải 200 triệu tấn, quay trở về chừng độ phát thải giữa những năm 1990. Nước này cũng đang có chính sách phát triển năng lượng tái hiện (điện gió và điện dữ) và duy trì tiềm năng điện hạt nhân đứng đầu thế giới với trên 100 lò phản ứng năng lượng giờ.

Lượng khí thải CO2 của Nhật Bản năm qua tăng 70 triệu tấn, vì những cụ để nâng cao hiệu quả năng lượng chẳng thể bù đắp cho sự tăng cường dùng nhiên liệu hóa thạch do đóng băng hồ hết các nhà máy điện hạt nhân sau tai nạn hạt nhân Fukushima năm 2011. Việc tái phát động hàng chục nhà máy điện hạt nhân trong thời kì tới là chủ trương được chính phủ của Thủ tướng Abe đang đeo đuổi.

Tình hình ở một số nhà nước điểm qua trên đây là thí dụ phản ánh sự lo âu và sự cụ của cả thế giới trước mối đe dọa của tình trạng biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học cho rằng sự gia tăng nhiệt độ làng nhàng toàn cầu cần phải được giới hạn ở mức dưới 2 độ C trong thế kỷ này. Điều này thực hành được nếu mức phát thải được giữ ở khoảng 44 tỷ tấn CO2 tương đương vào năm 2020. Tuy nhiên, IEA cho biết các số liệu phát thải giờ cho thấy nhiệt độ trên thế giới đang có khuynh hướng gia tăng làng nhàng khoảng 3,6 và 5,3 độ C.

Rõ ràng, việc ngăn chặn sự gia tăng nhiệt độ địa cầu như ước mong khó có thể giải quyết ngay trong thập kỷ này. bởi vậy, IEA kêu gọi các chính phủ mau chóng vận dụng các chính sách để vừa bảo đảm đích về hạn chế sự biến đổi xấu khí hậu mà không tổn hại tăng trưởng kinh tế.

Các chính sách đó là: nâng cao hiệu quả dùng năng lượng trong các tòa nhà, trong công nghiệp và liên lạc chuyển vận, hạn chế việc xây dựng và dùng các nhà máy điện không hiệu quả, giảm một nửa lượng khí thải khí mê tan, và huỷ bỏ một phần trợ cấp nhiên liệu hóa thạch.

nghĩa vụ đặt ra cho mọi nhà nước trên thế giới, nhưng trước tiên đặt trên vai các nước lớn, nước giàu và cũng là những nước phun ra khí độc – khí nhà kính lớn nhất. Sự rứa của các nước này như hiện thời là chưa đủ trước thảm họa nhỡn tiền do sự biến đổi khí hậu gây ra.

Minh Trần

Tags: lap dat camera | lap dat camera quan sat | camera quan sat | lap dat camera gia re camera quan sat gia re | tong dai dien thoai lap dat tong dai dien thoai

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét